Giuse Nguyễn

CÔNG ĐỒNG VATICANÔ II VÀ GIÁO LÝ

Công Đồng Vaticanô II đã được triệu tập cách đây 50 năm (1962-2012) và việc canh tân Giáo Hội cũng bắt đầu từ đây. Còn đối với giáo lý, chúng ta tự hỏi xem việc canh tân đang ở đâu sau những thúc bách đổi mới mà trước tiên là từ những trào lưu giáo lý khác nhau, tiếp đến là Công Đồng và sau cùng là những cố gắng suy tư?

1. VATICANÔ II, MỘT BIẾN CỐ QUYẾT ĐỊNH

Không còn nghi ngờ gì, Công Đồng Vaticanô II là biến cố quan trọng nhất của Giáo Hội trong thế kỷ 20 và nhiều người còn cho rằng đây là “Công Đồng của thiên niên kỷ thứ ba”. Dẫu rằng Công Đồng không đề cập trực tiếp đến chủ đề giáo lý và những tài liệu của Công Đồng qui chiếu về giáo lý là rất ít. Tuy nhiên,
Công Đồng đã có một tác động sâu xa và có tính quyết định trên giáo lý. Sự đóng góp cốt yếu của Công Đồng hệ tại việc làm sáng tỏ những yếu tố nền tảng của giáo lý về mục tiêu và nội dung của nó. Đối với Lời Chúa, thì giáo lý là sự loan báo Lời và kêu gọi phục vụ Lời. Còn với đối tượng là người tín hữu, thì giáo lý được coi là sự giáo dục đức tin. Và trong chiều kích thể chế, thì chính Giáo Hội hành động và diễn tả trong giáo lý. Những tài liệu của Công Đồng nói rất đầy đủ về ba thực tại này: LỜI, ĐỨC TIN và GIÁO HỘI (Hiến Chế Mạc Khải, Hiến Chế Giáo Hội, Hiến Chế Mục Vụ, Sắc Lệnh Truyền Giáo….).

Thật ra, Công Đồng đã công bố một sự hiểu biết mới về giáo lý cũng như cách thức mới để xem xét nó. Đồng thời, Công Đồng cũng mời gọi tất cả hãy nhìn giáo lý trong viễn cảnh gốc rễ đầu tiên của nó, là Lời Chúa được tái khám phá một cách đặc biệt trong Kinh Thánh và có liên quan trực tiếp tới việc giáo dục đức tin. Ở đó, giáo lý nhấn mạnh vào thái độ hiện hữu và toàn thể của cá nhân, đồng thời làm nổi bật một Giáo Hội đang hướng nhiều hơn đến sự hiệp thông và phục vụ. Những điểm nhấn này, cũng như một số điểm khác đã được phát triển trong suốt thời kỳ hậu Công Đồng.

Thời kỳ này ít ra cũng kéo dài cho đến năm 1980, được xem là một giai đoạn nghiên cứu sâu xa và gặt hái dồi dào về lãnh vực giáo lý. Bối cảnh của Công Đồng đã cho nhiều đề xuất mới và những sự xem xét lại, trong đó có cả những khủng hoảng. Thật khó để mà đánh giá đầy đủ về thời kỳ này vì tính phức tạp và sự phong phú của nó. Tuy nhiên, người ta có thể phác thảo gương mặt mới của giáo lý sau Công Đồng nhờ vào những đặc điểm sau đây: Ưu tiên cho việc rao giảng Tin Mừng, sự nổi bật của Kinh Thánh, chiều kích nhân loại học, tính nhạy cảm về xã hội chính trị, ưu tiên cho những người trưởng thành, chỗ đứng trung tâm của cộng đoàn, ý nghĩa của các phương tiện truyền thông và ngôn ngữ không lời, vv… Hơn nữa, một số lớn những hoạt động, những tài liệu, những hội nghị, những công bố đã biểu lộ công khai mong muốn canh tân của Giáo Hội trước một thế giới đang đi tìm những câu trả lời thích hợp, và trước những thách thức mới trong một xã hội đang chịu một sự thay đổi tận căn.

Vậy tình trạng giáo lý hiện nay như thế nào? Tất cả những cố gắng của chúng ta có đem lại hoa trái không? Từ cái nhìn toàn cảnh và khái quát, chúng ta có thể đánh giá được sự phong phú, cũng như sự phức tạp của việc thực hành giáo lý hôm nay và phân biệt được những điểm tối cũng như những mảng sáng; những nhân tố tích cực cũng như những yếu tố tiêu cực.

2. TÌNH TRẠNG GIÁO LÝ HIỆN NAY

Nhìn chung, người ta có thể thấy nhiều dấu hiệu tích cực, báo trước một tương lai tốt đẹp, ví dụ như: sự bùng phát các giáo lý viên giáo dân; sự nở rộ các hình thức cộng đoàn mới; sự tái xuất hiện các thừa tác viên giáo dân; sự đòi hỏi gia tăng việc đào tạo tôn giáo; những hình thức mới để khám phá Kinh Thánh và các bản văn truyền thống; sự lớn mạnh lạ lùng của những con đường dự tòng mang nhiều vẻ đẹp; sự hiểu biết và chấp nhận vai trò cũng như chỗ đứng của người phụ nữ; những kinh nghiệm đáng khích lệ của giáo lý gia đình; những khởi xướng mới trong lãnh vực đối thoại liên tôn và văn hóa. Điều này thoáng cho thấy một Giáo Hội được canh tân đang lớn lên trong âm thầm từ những gốc rễ riêng của nó.

Nhưng cũng phải nhìn nhận rằng dưới hình thức toàn vẹn và truyền thống, giáo lý của Giáo Hội hiện nay đang bộc lộ những dấu hiệu khá rõ về một cuộc khủng hoảng trầm trọng. Người ta phải công nhận rằng hiện nay có nhiều triệu chứng bất ổn và không thoả đáng, đặc trưng của một tình trạng khủng hoảng chung. Phải nói rằng “hệ thống cổ truyền’ của giáo lý không hoạt động và không cho những hoa trái như người ta mong đợi. Một số những nhân tố, những vấn đề và những tình trạng liên quan đến nó vẫn còn tồn tại.

3. NHỮNG KHỦNG HOẢNG TRONG LÃNH VỰC GIÁO LÝ

3.1. Khủng hoảng trong một Giáo Hội nhiều thế hệ

Người ta bắt đầu thấy xuất hiện những suy tư nghiêm túc về bản chất thần học và mục vụ của nhiều thế hệ khác nhau. Những suy tư này cho thấy mỗi thế hệ có những nhận thức, cách hiểu và lối sống đức tin phù hợp với bối cảnh và triết lý của thế hệ ấy. Đàng khác, mỗi một thế hệ có những đòi hỏi tiên thiên, những phong thái và ngôn ngữ riêng của nó. Những sự khác nhau này được tiếp nối từ thế hệ này đến thế hệ kia thường dẫn tới hệ quả là có những cách nhìn khác nhau trong tiến trình truyền đạt và truyền thống của đức tin kitô, kể cả những khái niệm truyền bá Tin Mừng và giáo lý.

Cuộc khủng hoảng này có thể được nhận ra về phương diện thể chế mà một số người gọi là “Schizophrenie ecclesiologique” (chứng tâm thần phân liệt của Giáo Hội) và “partenariat inegalitaire” (sự cộng tác không đồng đều). Chứng “tâm thần phân liệt của Giáo Hội” được thấy rõ qua sự kiện là các Giáo Hội địa phương vẫn hoạt động theo Giáo Hội học trước Công Đồng Vaticanô II, trong khi phong trào giáo lý tìm cách quảng bá tinh thần Vaticanô II qua giáo lý và trong giáo dục đức tin. Còn vấn đề “cộng tác không đồng đều” được thấy rõ qua sự kiện là các giáo lý viên phải cố gắng thi hành sứ mệnh phục vụ cộng đoàn trong khi họ đạo và gia đình lại không đóng góp gì.

3.2. Khủng hoảng và thất bại trong tiến trình truyền thống khai tâm kitô giáo

Đây là một lý do làm cho nhiều người lo lắng. Rất cụ thể và rất thường, giáo lý khai tâm xa “khai tâm” và kết thúc ngược đời. Nó tỏ cho thấy là tiến trình khai tâm kitô giáo truyền thống là một thất bại. Rõ ràng Bí Tích Thêm Sức mà một số người thường coi là “Bí Tích giã từ” (Sacrement de l’adieu) hoặc là “Bí Tích cuối cùng” (dernier des Sacrements). Nơi nhiều người trẻ, điều này đã được biểu lộ bằng sự kết thúc thực hành tôn giáo và cả đối với một số người là sự kết thúc chính đức tin kitô giáo. Sự ngược đời và thất bại này phát xuất từ tiến trình khai tâm kitô giáo mà trong thực tế đã trở thành tiến trình “kết thúc” đời sống kitô giáo.

3.3. Khủng hoảng ngôn ngữ và sứ điệp của giáo lý

Ngôn ngữ giáo lý và ý nghĩa phong phú của giáo lý tiếp tục tạo ra vấn đề. Khả năng trình bày sứ điệp kitô giáo cho người đương thời bằng một cách dễ hiểu và đầy ý nghĩa tiếp tục đáng ngờ. Một tài liệu ở châu Mỹ Latinh diễn tả nó bằng một cách khác thường khi nói rằng Giáo Hội bị tước đi hết vì cách loan truyền Tin Mừng thì nghèo nàn và phẩm chất tồi tệ đến nỗi người ta có cảm tưởng rằng nói một thứ ngôn ngữ mà không ai hiểu nổi; gửi đến quảng đại quần chúng những điều mà không có thực; mang đến câu trả lời cho những vấn đề mà không ai đặt ra và đề nghị những giải pháp mà không ai thực hiện.

Một số vấn đề ngôn ngữ và ý nghĩa tiếp tục ám ảnh giáo lý của chúng ta. Phần lớn vì tính không hiệu quả của giáo lý, đó là nó không truyền đạt một sứ điệp mà người đương thời có thể hiểu được và đem lại ý nghĩa cho họ. Người ta có thể dễ dàng thẩm tra nó trong phần lớn những dụng cụ giáo lý hiện đang được xử dụng và đôi khi cả trong những tài liệu chính thức nữa. Dĩ nhiên là người ta không thể phủ nhận nó vẫn có khả năng được trình bày tốt, thông minh mà nhiều người đánh giá cao. Tuy nhiên, phần lớn các tài liệu thì thiếu tính giáo lý (thiếu khả năng giúp cho người ta thực hành Lời Chúa và sống đức tin một cách cụ thể, trưởng thành trong đời thường), mặc dù có những phẩm chất lớn về phương diện Kinh Thánh và thần học.

3.4. Tính bấp bênh về giáo lý cho người trưởng thành

Cho đến hôm nay, nhiều kitô hữu trong các cộng đoàn của chúng ta vẫn còn cho rằng giáo lý chỉ dành riêng cho trẻ em, mặc dù đã được nhấn mạnh không ngừng từ bao nhiêu năm nay về tính cấp bách của giáo lý dành cho người trưởng thành và sự cần thiết phải bảo vệ một giáo lý thúc đẩy tăng trưởng đức tin nơi người trưởng thành trong một Giáo Hội trưởng thành. Nhưng thực tế, dường như còn rất xa đối với những tuyên bố chính thức về vấn đề này. Giáo lý dành cho người trưởng thành vẫn đang ở điểm khởi đầu, trong khi người ta tập trung hầu hết mọi năng lực cho giáo lý trẻ em và thiếu niên.

3.5. Những nhược điểm trong việc đào tạo giáo lý viên, các tác viên mục vụ và các linh mục

Nếu phải nhìn nhận rằng đã có nhiều kinh nghiệm tích cực và cố gắng đáng khen về lãnh vực đào tạo, thì cách chung cũng phải công nhận rằng việc đào tạo là chưa đủ và chưa thích nghi đủ. Điều đáng lo là các linh mục và các chủng sinh chuẩn bị cho tác vụ mục vụ cách chung và cho giáo lý cách riêng chỉ như một thói quen kéo dài mà không thích đáng. Hơn nữa, dù cho có một số cố gắng đáng khích lệ trong việc đào tạo các giáo lý viên, thì vẫn còn nhiều điều chưa tốt và thườngbộc lộ sự thiếu khả năng đáp ứng cho những yêu cầu hiện nay.

(Chuyển dịch từ “Les Fondamentaux de la Catéchèse”, Lumen Vitae, Bruxelles, 2006, pp.21-26).

Những phân tích và những nhận định trên đây được dựa vào những tài liệu chính thức của Giáo Hội trong Công Đồng Vaticanô II, Tông Huấn Kitô hữu giáo dân, Tông Huấn về giáo lý, Thông Điệp Loan Báo Tin Mừng trong thế giới hôm nay của Đức Thánh Cha Phaolô VI và những tài liệu khác của các Giáo Hội địa phương, đặc biệt tại Châu Á với FABC từ năm 1970 đến năm 2001. Và qua những phân tích, nhận định này, chúng ta thấy rõ tình hình giáo lý hiện nay cách chung và đặc biệt tại Việt Nam.

Phải chăng đây là lời cảnh báo và là điểm tham chiếu cần thiết gợi mở suy tư về công cuộc canh tân giáo lý, đặc biệt trong Năm Đức Tin, với biến cố quan trọng là Thượng Hội Đồng Giám Mục thế giới bàn về việc “Tái truyền giảng Tin Mừng”.

Chúng ta cần dành thời gian tìm hiểu kỹ hơn về những vấn đề đã được gợi ra trong bài phân tích và nhận định này, để có thể đề ra những giải pháp nhằm củng cố và đưa ra những sáng kiến nhằm canh tân giáo lý theo như sự mong muốn của Giáo Hội.

Rạch Giá ngày 11 tháng 10 năm 2012

Lm Vinh Sơn Nguyễn Văn Thanh .Nguồn UBGLĐT

Giuse Nguyễn

About Giuse Nguyễn

Author Description here.. Nulla sagittis convallis. Curabitur consequat. Quisque metus enim, venenatis fermentum, mollis in, porta et, nibh. Duis vulputate elit in elit. Mauris dictum libero id justo.

Subscribe to this Blog via Email :