Giuse Nguyễn

SUY NIỆM LỜI CHÚA CÁC NGÀY TRONG TUẦN XVI THƯỜNG NIÊN A

THỨ HAI TUẦN 16 TN: Th. Lô-ren-xô Brin-đi-xi, linh mục
Tin Mừng (Mt 12, 38-42)


Khi ấy, có mấy luật sĩ và biệt phái thưa cùng Chúa Giêsu rằng: “Lạy Thầy, chúng tôi muốn thấy Thầy làm một dấu lạ”. Người trả lời:

“Thế hệ hung ác gian dâm đòi một dấu lạ! Nhưng sẽ không cho dấu lạ nào, trừ dấu lạ tiên tri Giona. Cũng như xưa tiên tri Giona ở trong bụng cá ba đêm ngày thế nào, thì Con Người cũng sẽ ở trong lòng đất ba đêm ngày như vậy. Tới ngày phán xét, dân thành Ninivê sẽ chỗi dậy cùng với thế hệ này và lên án nó, vì họ đã nghe lời tiên tri Giona mà sám hối tội lỗi, nhưng đây có Ðấng cao trọng hơn Giona. Ðến ngày phán xét, nữ hoàng phương nam sẽ chỗi dậy cùng với thế hệ này và lên án nó: vì bà từ biên thuỳ trái đất đã đến nghe lời khôn ngoan của vua Salomon, nhưng đây có Ðấng cao trọng hơn Salomon”.

Thánh Laurensô Brinđisi, Linh mục, tiến sĩ Hội thánh (1559 – 1619)

Cesare de Rossi sinh tại Brinđisi vùng Aquila, miền nam nước Ý năm 1559 và được giáo dục tại Venise. Suốt cuộc đời ngài muốn trở thành một chiến sĩ của Thiên Chúa, một người hướng dẫn các linh hồn. Vì thế ngài gia nhập dòng thánh Phanxicô ở Verôna. Năm 1575, ngài được mặc áo dòng với tên gọi là Laurensô Brindisi.

Những năm theo học tại Padua đã giúp ngài trở thành học giả, thông thạo các thứ tiếng Pháp, Đức, Hy lạp, Syria và Do thái. Những khả năng này đã góp phần mang lại nhiều thành công khi ngài làm việc với anh em Do thái và khi ngài phải đương đầu với sự bành trướng của Thệ phản. Danh tiếng ngài lan rộng khắp vùng Trung Âu.

Trong dòng, Laurensô Brinđisi đã được bầu làm bề trên cả.

Ngoài ra, ngài còn hăng say với đạo binh Thánh giá dẫn đầu đoàn quân Hung Gia Lợi chống lại quân Thổ Nhĩ Kỳ. Với thánh giá cầm tay, ngài đã mang lại chiến thắng năm 1601.

Phần đời còn lại, ngài hiến mình cho việc truyền giáo và ngoại giao. Với khả năng đặc biệt này, ngài đã là một nhà ngoại giao tài giỏi của nhiều Giáo Hoàng. Tuy nhiên, giữa những hoạt động bên ngoài, thánh nhân vẫn dành nhiều thời gian cho việc cầu nguyện và thực tập các nhân đức. Chính đời sống nội tâm sâu sắc đã đưa ngài lên đỉnh cao đời sống thánh thiện.

Năm 1619, đang khi thi hành sứ mạng được trao phó ở Lisbone, thánh Laurensô đã từ trần trong sự nghèo khó đơn sơ và thánh thiện. Ngài để lại nhiều tác phẩm giá trị cho kho tàng đức tin Công giáo. Năm 1881, Đức Giáo Hoàng Lêô XIII đã tuyên phong ngài lên bậc hiển thánh. Năm 1959 Đức Giáo Hoàng Gioan XXIII đặt ngài làm tiến sĩ Hội Thánh.

ƠN CỨU ĐỘ KHÔNG TRỪ AI

“… xưa dân ấy đã sám hối khi nghe ông Giô-na rao giảng; mà đây còn hơn ông Giô-na nữa.” (Mt 12,41)

Suy niệm: Câu chuyện ông Giô-na không muốn đến Ni-ni-vê rao giảng phản ảnh não trạng cho rằng ơn cứu độ chỉ dành cho dân Ít-ra-en. Trái lại, việc dân Ni-ni-vê mau chóng nghe lời rao giảng là lời nhắc nhở rằng Thiên Chúa không đóng khung ơn cứu độ chỉ nơi con cái Ít-ra-en và hơn nữa,mọi người không trừ ai đều cần phải sám hối để được hưởng ơn cứu độ. Đáng buồn thay khi Đấng Cứu Thế đến thì chính người nhà của Ngài – dân Ít-ra-en – lại không muốn sám hối để hưởng ơn cứu độ. Chúa Giê-su đem chuyện Giô-na và nữ hoàng Phương Nam ra làm bằng chứng để trách khéo họ: Giô-na chỉ đến giảng; còn Chúa Giê-su không chỉ dạy cho họ con đường trọn lành… mà còn làm bao nhiêu phép lạ, thế mà họ không chịu nghe. Thật là đáng trách và đáng tiếc!

Mời Bạn: Không ít người ngày nay giống như người Do Thái xưa đòi dấu lạ theo ý muốn vụ lợi của họ. Nhưng sứ điệp của Đức Ki-tô “Sám hối và tin vào Phúc Âm” vẫn còn nguyên giá trị. Vì thế người Ki-tô hữu trong sứ mệnh Phúc Âm hoá chẳng những phải đem Tin Mừng đến cho mọi người, “cho kẻ ở xa cũng như ở gần, cho người lành cũng như kẻ dữ” mà còn dùng đời sống mình làm chứng tá đức tin để nhiều người được cảm hoá, hoán cải và được cứu độ.

Sống Lời Chúa: Để thực thi sứ mạng Phúc Âm hoá, bạn phải được Phúc Âm hoá trước đã. Mời bạn trung thành việc học hỏi Lời Chúa và suy niệm Phúc Âm mỗi ngày.

Cầu nguyện: Lạy Chúa, xin đừng để con đòi hỏi Chúa làm gì cho con, nhưng trước hết giúp con tự hỏi mình đã làm gì cho Chúa.


Lạy Chúa Giê-su Thánh Thể

Chúa là Đấng quyền năng. Chúa tiếp tục thực hiện biết bao kỳ công trên vũ trụ và tạo vật. Chúa tiếp tục sáng tạo cho thế giới này đẹp xinh thêm. Chúng con xin tạ ơn Chúa. Chúng con xin chúc tụng và ngợi khen Chúa. Xin Chúa giúp chúng con biết nhận ra ân ban của Chúa vẫn dành cho chúng con để dâng lời tạ ơn Chúa.

Lạy Chúa Giê-su mến yêu, chúng con cảm tạ Chúa vì những ơn lành Chúa thương ban xuống trên cuộc đời chúng con. Chúng con xin tán dương quyền năng của Chúa vẫn gìn giữ chở che cuộc đời chúng con. Phép lạ Chúa vẫn tiếp diễn trong từng phút giây cuộc đời chúng con. Sự sống, sức khỏe của chúng con được Chúa tạo dựng, dưỡng nuôi là một ân ban mà Chúa đã dành cho chúng con. Cha mẹ, bạn bè là những người Chúa gửi đến để mang lại niềm vui và hạnh phúc cho chúng con. Tất cả là hồng ân, là quà tặng, là phép lạ mà Chúa đã thực hiện vì lòng yêu thương chúng con. Chúng xin tri ân và ngợi khen Chúa.

Lạy Chúa, xin ban cho chúng con đức tin đủ để nhận ra tình thương cao vời của Chúa. Xin cho chúng con lòng trông vậy vững vàng để dầu đứng trước gian nguy chúng con luôn phó thác nơi Chúa. Xin ban cho chúng con lòng mến sắt son để chúng con biết yêu mến Chúa trên hết mọi sự. Amen.

THỨ BA TUẦN 16 TN: Th. Ma-ri-a Ma-đa-lê-na
Tin Mừng (Ga 20, 1. 11-18)


Ngày đầu tuần, Maria Mađalêna đi ra mồ từ sáng sớm khi trời còn tối, và bà thấy tảng đá đã được lăn ra khỏi mồ.

(Bà liền chạy về tìm Simon Phêrô và người môn đệ khác được Chúa Giêsu yêu mến, bà nói với các ông rằng: “Người ta đã lấy xác Thầy khỏi mồ, và chúng tôi không biết người ta để Thầy ở đâu”.) Bà Maria đang còn đứng gần mồ Chúa mà than khóc, nhìn vào trong mồ, bà thấy hai thiên thần mặc áo trắng đang ngồi nơi đã đặt xác Chúa Giêsu, một vị ngồi phía đàng đầu, một vị ngồi phía đàng chân. Hai vị hỏi: “Tại sao bà khóc?” Bà trả lời: “Người ta đã lấy mất xác Chúa tôi, và tôi không biết người ta đã để Người ở đâu?” Vừa nói xong, bà quay mặt lại, thì thấy Chúa Giêsu đã đứng đó. Nhưng bà chưa biết là Chúa Giêsu. Chúa Giêsu hỏi: “Bà kia, sao mà khóc? Bà tìm ai?” Tưởng là người giữ vườn, Maria thưa: “Thưa ông, nếu ông đã mang xác Người đi, thì xin cho tôi biết ông đã đặt Người ở đâu, để tôi đến lấy xác Người”. Chúa Giêsu gọi: “Maria”. Quay mặt lại, bà thưa Người: “Rabboni”, nghĩa là “Lạy Thầy”. Chúa Giêsu bảo bà: “Ðừng động đến Ta, vì Ta chưa về cùng Cha Ta. Nhưng hãy báo tin cho các anh em Ta hay và bảo họ rằng: “Ta về cùng Cha Ta, cũng là Cha các con; về cùng Thiên Chúa Ta, cũng là Thiên Chúa các con”. Maria Mađalêna đi báo tin cho các môn đệ rằng: “Tôi đã trông thấy Chúa, và Chúa đã phán với tôi những điều ấy”.

Thánh nữ Maria Magđalêna

Thánh nữ Maria Mađalêna quê ở Magđala, gần biển hồ Galilêa. Thánh nữ bị quỷ ám cho tới khi Đức Chúa Giêsu đến trừ quỷ cho. Sau đó, Maria Mađalêna đi theo Đức Chúa Giêsu làm môn đệ và là một trong những phụ nữ thánh thiện đã giúp đỡ Chúa Giêsu và các tông đồ.

Khi Chúa Giêsu bị đóng đinh, thánh nữ Maria Mađalêna đã đứng dưới chân thập giá. Ngài ở đó cùng với Đức Maria và thánh Gioan, không sợ nguy hiểm gì! Tất cả những điều thánh nữ có thể nghĩ tưởng lúc ấy là: Thiên Chúa của tôi đang phải chịu đau khổ!

Sau khi thân xác Đức Chúa Giêsu được mai táng, Maria Mađalêna đã đến mồ Chúa ngay từ sáng sớm ngày Chúa phục sinh. Thánh nữ rất đỗi bàng hoàng khi nhìn thấy tảng đá to được lăn ra và ngôi mộ trống rỗng. Maria Mađalêna đã vội chạy đi báo tin cho Phêrô và Gioan: “Họ đã lấy mất xác Thầy và tôi không biết họ đã đặt Người ở đâu!” Phêrô và Gioan liền vội vã chạy tới mồ và nhận thấy mọi sự thật đúng như lời Maria Mađalêna đã nói. Rồi Maria Mađalêna ở lại bên mộ sau khi Phêrô và Gioan về nhà. Và Maria Mađalêna bắt đầu khóc! Đột nhiên, Maria Mađalêna thấy một người đàn ông mà ngài tưởng là người làm vườn. Maria Mađalêna liền hỏi người ấy xem có biết nơi để xác Thầy yêu quý của mình không. Và người đàn ông nói bằng một giọng mà Maria Mađalêna nghe rất quen: “Maria!” Và đó chính là Đức Chúa Giêsu, đang đứng ngay trước mặt thánh nữ! Chúa đã sống lại từ cõi chết! Maria Mađalêna liền quỳ phục xuống dưới chân Chúa Giêsu và kêu lên: “Lạy Thầy!”

Các thánh ký cho chúng ta biết Maria Mađalêna đã được Chúa Giêsu sai đi loan báo Tin mừng phục sinh cho Phêrô và các tông đồ. Ở những thế kỷ đầu của Giáo hội, lễ mừng kính thánh nữ Maria Mađalêna được cử hành cách long trọng y như lễ kính các thánh tông đồ.

Thánh nữ Maria Mađalêna là người đầu tiên được xem thấy Đức Chúa Giêsu phục sinh và là người đầu tiên đem Tin mừng phục sinh đến cho các tông đồ. Thánh nữ có thể giúp chúng ta loan báo cũng Tin mừng ấy qua việc sống cuộc đời vui tươi và đầy lòng tin tưởng.

GẶP VÀ THẤY

Bà Ma-ri-a Mác-đa-la đi báo cho các môn đệ: “Tôi đã thấy Chúa,” và bà kể lại những điều Người đã nói với bà.(Ga 20,18)

Suy niệm: Cả bốn sách Phúc Âm đều thống nhất một điều là cô Ma-ri-a Mác-đa-lê-na là người đầu tiên gặp Chúa Ki-tô phục sinh (x. Mt 28,9-10; Mc 16,9-11; Lc 24,10). Cô có một quá khứ ảm đạm nhưng đã được biến đổi hoàn toàn từ khi cô gặp Đức Ki-tô: sau khi được Ngài giải thoát khỏi bảy tên quỷ, cô gia nhập đoàn những môn đệ đi theo Ngài trên mọi nẻo đường truyền giáo (Lc 8,1-4); cô có mặt bên cạnh Chúa Giê-su dưới chân thập giá cùng với Đức Ma-ri-a và người môn đệ được Chúa yêu mến (Ga 19,25-26). Cô được mệnh danh là “tông đồ của các tông đồ” (th. Âu-tinh) vì cô được Đức Ki-tô phục sinh giao sứ mạng báo tin cho các tông đồ: “Tôi đã thấy Chúa.”

Mời Bạn: Trong sự khiêm tốn, chúng ta đều cùng cảm nghiệm với cô Ma-đa-lê-na rằng mình là tội nhân. Đức Ki-tô phục sinh, Đấng duy nhất có thể xoá tội để cứu độ và đem lại niềm vui cho chúng ta, Ngài đang sống, đang hiện diện đây trong bí tích Thánh Thể, nơi những người vẫn sống cuộc sống thường ngày quanh chúng ta. Nhưng liệu chúng ta có gặp và thấy Ngài như Ma-ri-a Ma-đa-lê-na không?

Sống Lời Chúa: Xin ơn nhận ra Chúa Giê-su hiện diện nơi những người sống quanh tôi, đặc biệt trong gia đình tôi.

Cầu nguyện: Lạy Chúa Giê-su, chúng con tạ ơn Chúa đã hạ mình, để chúng con có thể gặp gỡ Chúa nơi những anh chị em chúng con. Gặp và thấy Chúa đó là niềm vui lớn nhất trong cuộc đời chúng con. Xin cho chúng con sống và lan tỏa niềm vui đó mỗi ngày bằng một nụ cười hay một cử chỉ yêu thương mỗi khi chúng con gặp gỡ người nào đó.

Lạy Chúa Giê-su Thánh Thể,

Qua bí tích Thánh Thể, Chúa liên kết chúng con nên một trong Chúa. Sự sống của Chúa được lưu chảy trong chúng con, và thẩm thấu vào cuộc đời chúng con. Xin cho chúng con luôn được hợp nhất với Chúa qua Thánh Thể và nhất là qua đời sống lắng nghe và thực thi Lời Chúa.

Lạy Chúa Giê-su mến yêu, cuộc đời có quá nhiều tiếng gọi mời. Có tiếng gọi mời chúng con vào con đường xấu. Có tiếng gọi mời chúng con xa lìa Chúa. Có tiếng gọi mời thôi thúc chúng con sống theo lời Chúa. Có tiếng mời gọi chúng con quay trở về với Chúa tình yêu. Nhưng Chúa ơi, với bản tính yếu đuối và lười biếng, chúng con dễ để lòng mình buông theo tính xác thịt mà rời xa tình Chúa, mà làm ngơ trước tiếng gọi mời của Chúa. Xin tha thứ cho chúng con. Xin ban thêm ơn trợ giúp để chúng con can đảm nói không với tội lỗi và quyết tâm sửa đổi lỗi lầm. Xin Chúa nhận chúng con vào gia đình của Chúa để chúng con luôn được Chúa yêu mến, dạy dỗ.

Lạy Chúa, xin cho chúng con trở nên một thành viên của gia đình Chúa, để sự hiện diện của chúng con luôn mang lại an vui , hạnh phúc cho những ai chúng con gặp gỡ trong cuộc sống hằng ngày. Amen.

Đọc thêm: Chân dung Thánh Maria Mađalêna

Thánh Maria Mađalêna (hoặc Maria Mácđala) được cả Công giáo, Chính thống giáo, Anh giáo, và Tin lành Luther tôn kính là một vị thánh, lễ nhớ ngày 22-7 hằng năm. Các Giáo hội Tin lành khác tôn kính bà là nữ anh hùng đức tin. Chính thống giáo Đông phương cũng kính nhớ bà vào Chúa nhật Myrrh-bearers (người mang dầu thơm).

Tên “cúng cơm” của Thánh Maria Mađalêna là Μαρία (Maria), và thường được coi ở dạng Latin viết là Μαριὰμ (Mariam). Tên Maria rất phổ biến trong thời Chúa Giêsu vì liên quan việc cai trị thời Hasmonea và các triều đại Hêrôđê.

Tuy nhiên, bà bị tai tiếng vì bà bị hiểu lầm là “người phụ nữ tội lỗi” đã khóc và xức dầu thơm chân Chúa Giêsu.

Thực ra Maria Mađalêna (Hy ngữ: Μαρία ἡ Μαγδαληνή) là một phụ nữ đạo đức và can đảm. Trong Tân ước, Thánh Maria Mađalêna được coi là người phụ nữ quan trọng thứ nhì sau Đức Maria, Mẹ Thiên Chúa. Bà đồng hành với Chúa Giêsu cùng với các Tông đồ. Bà hiện diện trong hai thời điểm quan trọng nhất của Chúa Giêsu: Chịu đóng đinh và phục sinh. Trong 4 Phúc Âm, tài liệu lịch sử cổ xưa nhất nhắc đến tên bà, ít nhất 12 lần, hơn cả các Tông đồ khác. Phúc Âm diễn tả bà là người đủ can đảm nên mới có thể đứng bên Chúa Giêsu trong thời gian Ngài chịu khổ nạn, chịu chết và sau đó.

Trong Tân ước, Chúa Giêsu đã trừ bảy quỷ và chữa bệnh cho bà (x. Lc 8:2; Mc 16:9), đôi khi được hiểu là các chứng bệnh phức tạp. Bà nổi bật nhất trong những ngày cuối đời của Chúa Giêsu trên thế gian. Khi Chúa Giêsu chịu đóng đinh, bà có mặt ở đó với Ngài, trong giây phút khủng khiếp nhất, và bà đã than khóc Ngài. Sau khi các Tông đồ “bỏ của chạy lấy người”, trừ Thánh Gioan Tông đồ, bà vẫn ở bên Chúa Giêsu. Khi an táng Chúa Giêsu, bà là người duy nhất được kể tên trong cả 4 Phúc Âm khi biết Chúa Giêsu phục sinh và chính bà là nhân chứng đức tin. Ga 20:11-18 và Mc 16:9 xác nhận bà là người đầu tiên gặp Chúa Giêsu phục sinh. Bà có mặt vào ngay giây phút đầu tiên mà sau đó biến đổi Tây phương. Bà là “Tông đồ đối với các Tông đồ”, một cách nói kính cẩn mà thần học gia Augustine (Chính thống giáo, thế kỷ IV) đã dành cho bà, và những người thời Giáo hội sơ khai cũng nói về bà như vậy.

Mặc dù ngày xưa bà bị mang tai tiếng khi người ta mô tả trong tôn giáo, nghệ thuật, văn chương, và cả những cuốn sách và các bộ phim mới đây, như The Da Vinci Code (Mật mã Da Vinci), ngày nay người ta cũng đồng ý điều này: “Không có chứng cớ Kinh Thánh nào chứng tỏ bà là gái điếm, người vợ, người mẹ, hoặc người yêu bí mật”.

Trong cả 4 Phúc Âm, Thánh Maria Mađalêna hầu như luôn được phân biệt với các phụ nữ khác tên là Maria bằng cách thêm chữ Mađalêna vào tên bà. Theo truyền thống, điều này có nghĩa bà là người vùng Mađalêna, một thành phố thuộc Tây duyên hải Galilê. Lc 8:2 nói rằng bà thực sự được gọi là Mađalêna. Theo tiếng Do thái, Mađalêna (Migdal, מגדל) nghĩa là “tháp”, “thành lũy”; theo tiếng Aram, Mađalêna nghĩa là “tháp” hoặc “được nâng lên, cao cả, nguy nga”. Các bản văn truyền thống Do Thái nói: “Miriam, hamegadela se’ar nasha” – Maria, người bện tóc phụ nữ (Hagigah 4b; x. Shabbat 104b), có thể nói Maria Mađalêna phục vụ như một người thợ làm tóc (kiểu làm đầu, uốn tóc ngày nay).

Trong Phúc Âm theo Thánh Gioan, Thánh Maria Mađalêna cũng được nhắc tới bằng tên Maria ít nhất là 2 lần. Các văn bản không chính thức khác thì dùng tên Maria, Maria Mađalêna, hoặc Mađalêna.

Ngày nay, hầu như người ta đồng ý điểm quan trọng: Người ta cho rằng Thánh Maria Mađalêna là “gái điếm sám hối”, đó là vô căn cứ. Tuy nhiên, Thánh Maria Mađalêna vẫn bị lầm lẫn với các phụ nữ khác cũng tên Maria và vài phụ nữ nặc danh vẫn bị coi là phụ nữ phạm tội ngoại tình. Người ta đồng hóa Maria Mađalêna với nữ tội nhân vô danh nào đó (thường biết đến là phụ nữ ngoại tình) trong trình thuật Lc 7:36-50. Mặc dù Thánh Maria Mađalêna được nhắc tên trong cả 4 Phúc Âm, nhưng không lần nào nói bà là gái điếm hoặc tội nhân. Tân ước không hề có “gợi ý” nào nói bà là một cô gái làng chơi hoặc một phụ nữ trắc nết. Các học giả đương đại đã phục hồi “danh tiếng” cho Thánh Maria Mađalêna là người dẫn dắt quan trọng của Kitô giáo thời sơ khai.

Nhiều thế kỷ qua, Công giáo Tây phương dạy rằng Thánh Maria Mađalêna là người được nói tới trong các Phúc Âm vừa là Maria ở Bêthania vừa là “người đàn bà tội lỗi” xức dầu thơm chân Chúa Giêsu (Lc 7:36-50). Khái niệm về Thánh Maria Mađalêna là gái điếm sám hối đã phổ biến qua nhiều thế kỷ, ít là từ Ephraim người Syria (thế kỷ IV), Thánh GH Grêgôriô Cả (thế kỷ VI), nhiều họa sĩ, văn sĩ và các nhà chú giải Kinh Thánh cũng theo xu hướng đó. Từ thế kỷ XII, Abbot Hugh ở Semur (qua đời năm 1109), Peter Abelard (qua đời năm 1142), và Geoffrey ở Vendome (qua đời năm 1132) đều nhắc tới Thánh Maria Mađalêna là người tội lỗi và được tặng danh hiệu “apostolarum apostola” (Tông đồ đối với các Tông đồ), danh hiệu này trở thành phổ biến trong các thế kỷ XII và XIII. Do đó, hình ảnh cô-gái-điếm-sám-hối trở thành “đặc điểm” bị gán cho Thánh Maria Mađalêna trong nghệ thuật và văn chương tôn giáo ở Tây phương. Vì hiểu sai về bà nên trong nghệ thuật, người ta thường vẽ bà mặc áo hở cổ, lả lơi, thậm chí có họa sĩ còn vẽ bà khỏa thân bên chiếc sọ đầu lâu với bình dầu thơm, và một tay cầm Thánh Giá, hoặc là một phụ nữ xa lánh mọi người để sám hối nơi hoang địa.

Sự đồng hóa đó là do Công giáo Tây phương, có trong bài giảng của Thánh GH Grêgôriô Cả vào khoảng năm 591. Thánh GH Grêgôriô Cả được coi là một trong những người ảnh hưởng nhất và trở thành giáo hoàng. Trong các bài giảng nổi tiếng của ngài về Thánh Maria Mađalêna, giảng tại Rôma, ngài đã xác định Mađalêna không chỉ là phụ nữ tội lỗi trong Phúc Âm theo Thánh Luca, mà còn là Maria ở Bêthania, chị của Matta và Ladarô; chính bảy quỷ được Chúa Giêsu trục xuất “đã tạo thành 7 tội trọng, và Maria Mađalêna bắt đầu bị kết án không chỉ vì tội dâm dục mà còn vì tội kiêu ngạo và tham lam”. Bài giảng của Thánh GH Grêgôriô Cả về Phúc Âm theo Thánh Luca đã tạo thành cách hiểu chính thức của Giáo hội về Thánh Maria Mađalêna, cho rằng bà là phụ nữ “alabaster jar” (gái điếm).

Trong bài giảng XXXIII, Thánh GH Grêgôriô Cả nói: “Bà [Maria Mađalêna] là người mà Thánh Luca gọi là phụ nữ tội lỗi, Thánh Gioan gọi là Maria, chúng ta tin là Maria được trừ bảy quỷ trong Phúc Âm theo Thánh Máccô. Bảy quỷ này biểu hiện điều gì, nếu không phải là các thói hư? Anh chị em thân mến, rõ ràng là phụ nữ này trước đó đã xức thơm thân xác cô bằng những hành động bị cấm. Do đó điều cô biểu hiện càng khiếm nhã hơn, nhưng nay cô dâng cho Chúa bằng động thái đáng khen. Cô đã ham muốn bằng con mắt trần tục, nhưng nay cô ăn năn bằng nước mắt. Cô đã xõa tóc che mặt, nhưng nay cô dùng tóc lau khô nước mắt. Miệng cô đã nói những điều kiêu ngạo, nhưng nay cô dùng miệng hôn chân Chúa, cô đặt miệng mình lên chân Đấng Cứu Thế. Do đó, đối với mỗi niềm vui, cô đã có trong lòng, nay cô hy sinh chính mình. Cô biến tội lỗi thành nhân đức để phục vụ Thiên Chúa hoàn toàn trong sự ăn năn”.

Với điều này, tác giả Susan Haskins viết trong cuốn “Mary Magdalene: Myth and Metaphor” (Maria Mađalêna: Huyền thoại và Ẩn dụ): “Cuối cùng, hình ảnh xung đột của Thánh Maria Mađalêna cũng được sáng tỏ… sau gần 140 năm”.

Năm 1969, trong triều đại giáo hoàng của Chân phước Phaolô VI, Tòa Thánh không phê bình về nhận xét của Thánh GH Grêgôriô Cả, mà chỉ bỏ điều đó bằng cách tách biệt người phụ nữ tội lỗi trong Phúc Âm theo Thánh Luca với bà Maria ở Bêthania và Maria Mađalêna qua Sách lễ Rôma.

Do đó, tai tiếng vẫn cứ “lờn vờn” bị gán cho Thánh Maria Mađalêna. Sau thời gian quá lâu, cách tin này trở thành “thâm căn cố đế” không chỉ trong Giáo hội Tây phương mà còn trong một số Giáo hội Tin lành đã từng theo truyền thống Công giáo Rôma. Cách hiểu sai về Thánh Maria Mađalêna là cô-gái-điếm-sám-hối vẫn được nhiều văn sĩ và họa sĩ hồi thập niên 1990. Thậm chí ngay cả ngày nay, cách hiểu sai đó vẫn được truyền bá. Điều đó được phản ánh trong bộ phim của Martin Scorsese – phỏng theo tiểu thuyết “Cơn Cám Dỗ Cuối Cùng của Đức Kitô” (The Last Temptation of Christ) của Nikos Kazantzakis, trong phim “Phúc Âm theo Chúa Giêsu Kitô” (The Gospel According to Jesus Christ) của José Saramago, trong “Siêu Sao Giêsu Kitô” của Andrew Lloyd Webber, trong “Cuộc Khổ Nạn của Đức Kitô” của Mel Gibson, trong “Màu Thập Giá” (Color of the Cross) của Jean-Claude La Marre và trong “Sách Sự Sống” (The Book of Life) của Hal Hartley.

Vì hiểu sai về Thánh Maria Mađalêna là gái điếm nên người ta mới chọn bà làm bổn mạng của “các phụ nữ hư hỏng”, vì có một truyền thuyết lâu đời trong Giáo hội nói rằng bà là người phụ nữ tội lỗi vô danh đã xức dầu chân Chúa Giêsu được thuật lại trong Lc 7:36-50, và Viện tế bần Mađalêna đã được thành lập để “cứu vớt” các chị em từ nhà thổ. Bà còn được coi là bổn mạng của những người bị vu khống.

Thánh sử Luca cho biết: “Đức Giêsu rảo qua các thành phố, làng mạc, rao giảng và loan báo Tin Mừng Nước Thiên Chúa. Cùng đi với Người, có Nhóm Mười Hai và mấy người phụ nữ đã được Người trừ quỷ và chữa bệnh. Đó là bà Maria gọi là Maria Mađalêna, người đã được giải thoát khỏi bảy quỷ, bà Gioanna, vợ ông Khu-da quản lý của vua Hêrôđê, bà Susanna và nhiều bà khác nữa. Các bà này đã lấy của cải mình mà giúp đỡ Đức Giêsu và các môn đệ” (Lc 8:1-3).

Lúc Chúa Giêsu chịu khổ hình và phục sinh, Thánh Maria Mađalêna đã có mặt bên Chúa Giêsu. Trong số những người theo Chúa Giêsu chỉ có bà được nói rõ tên là nhân chứng 3 sự kiện quan trọng: Chúa Giêsu chịu khổ nạn, Chúa Giêsu chịu mai táng, và ngôi mộ trống. Mc 15:40, Mt 27:56 và Ga 19:25 nói đến Thánh Maria Mađalêna là nhân chứng khi Chúa Giêsu chịu khổ nạn, cùng với các phụ nữ khác. Thánh Luca không nêu tên nhân chứng, nhưng nói: “Đứng đàng xa, có tất cả những người quen biết Đức Giêsu cũng như những phụ nữ đã theo Người từ Galilê; các bà đã chứng kiến những việc ấy” (Lc 23:49). Thánh Máccô nói: “Còn bà Maria Mađalêna và bà Maria mẹ ông Giôxết, thì để ý nhìn xem chỗ họ mai táng Người” (Mc 15:47), và Thánh Matthêu nói: “Còn bà Maria Mađalêna và một bà khác cũng tên là Maria ở lại đó, quay mặt vào mồ” (Mt 27:61). Lc 23:55 cho biết: “Cùng đi với ông Giô-xếp, có những người phụ nữ đã theo Đức Giê-su từ Ga-li-lê. Các bà để ý nhìn ngôi mộ và xem xác Người được đặt như thế nào”. Ga 19:39-42 mô tả: “Ông Nicôđêmô cũng đến. Ông này trước kia đã tới gặp Đức Giêsu ban đêm. Ông mang theo chừng một trăm cân mộc dược trộn với trầm hương. Các ông lãnh thi hài Đức Giêsu, lấy băng vải tẩm thuốc thơm mà quấn, theo tục lệ chôn cất của người Do-thái. Nơi Đức Giêsu bị đóng đinh có một thửa vườn, và trong vườn, có một ngôi mộ còn mới, chưa chôn cất ai. Vì hôm ấy là ngày áp lễ của người Do-thái, mà ngôi mộ lại gần bên, nên các ông mai táng Đức Giêsu ở đó”.

Thánh Máccô, Matthêu và Gioan đều nói Thánh Maria Mađalêna là nhân chứng đầu tiên đối với việc Chúa phục sinh. Ga 20:1 cho biết Thánh Maria Mađalêna mô tả việc thấy ngôi một trống. Mc 16:9 nói: “Sau khi sống lại vào lúc tảng sáng ngày thứ nhất trong tuần, Đức Giêsu hiện ra trước tiên với bà Maria Mađalêna, là kẻ đã được Người trừ cho khỏi bảy quỷ”. Thánh sử Mátthêu cho biết: “Sau ngày sa-bát, khi ngày thứ nhất trong tuần vừa ló rạng, bà Maria Mác-đa-la và một bà khác cũng tên là Maria, đi viếng mộ” (Mt 28:1).

Sau khi thuật lại cho các Tông đồ biết Chúa Giêsu đã phục sinh, Thánh Maria Mađalêna không được nhắc đến trong Tân ước nữa. Bà cũng không được nhắc tên trong sách Công vụ, và “số phận” bà vẫn không được tài liệu ghi lại và không được “minh oan”. Có phải vì vậy mà bà cứ bị hiểu lầm là “người phụ nữ tội lỗi” chăng?

Đa số các học giả Kinh thánh ngày nay đều chứng tỏ rằng không có nền tảng Kinh thánh nào để lẫn lộn hai phụ nữ này. Maria Magđalêna, nghĩa là Maria ở Magđalêna, là người mà Chúa Giêsu đã đuổi “bảy quỷ” (Lc 8:2). Maria Mađalêna là một trong những người “giúp Chúa Giêsu và Nhóm Mười Hai”. Bà là một trong những người đứng bên Thánh giá với Đức Mẹ.

LM W.J. Harrington, Dòng Đa Minh, viết trong cuốn “Chú giải Công giáo mới” (New Catholic Commentary): “Bị bảy quỷ ám không có nghĩa là Thánh Maria Mađalêna đã sống cuộc đời vô luân, một kết luận chỉ đạt được bằng cách lầm lẫn với phụ nữ vô danh trong Lc 7:36”. LM Edward Mally, Dòng Tên, viết trong cuốn “Chú giải Kinh thánh của Thánh Giêrônimô” (Jerome Biblical Commentary): “Bà (Maria Mađalêna) KHÔNG là phụ nữ tội lỗi trong Lc 7:37, mặc dù có truyền thống lãng mạn Tây phương đã nói về bà”.

Hy vọng từ nay Thánh Maria Mađalêna sẽ không còn bị “mang tiếng” và không còn bị chúng ta hiểu lầm như xưa nay nữa!

Lạy Thánh Maria Mađalêna, xin nguyện giúp cầu thay. Amen.

Trầm Thiên Thu

THỨ TƯ TUẦN 14 TN: Th. Bi-ghít-ta, nữ tu
Tin Mừng (Mt 13, 1-9)


Ngày ấy, Chúa Giêsu ra khỏi nhà và đi đến ngồi ở ven bờ biển. Dân chúng tụ tập quanh Người đông đảo đến nỗi Người phải xuống thuyền mà ngồi, còn tất cả dân chúng thì đứng trên bờ. Và Người dùng dụ ngôn mà nói với họ nhiều điều. Người nói: “Này đây, có người gieo giống đi gieo lúa. Trong khi gieo, có hạt rơi xuống vệ đường, chim trời bay đến ăn mất. Có hạt rơi xuống trên đá sỏi, chỗ có ít đất, nó liền mọc lên, vì không có nhiều đất. Khi mặt trời mọc lên, bị nắng gắt, và vì không đâm rễ sâu, nên nó khô héo. Có hạt rơi vào bụi gai, gai mọc um tùm, nên nó chết nghẹt. Có hạt rơi xuống đất tốt và sinh hoa kết quả, có hạt được một trăm, có hạt được sáu mươi, hạt ba mươi. Ai có tai để nghe, thì hãy nghe”.

Thánh Brigitta, nữ tu (1303 – 1373)

Thánh Brigitta (hay là Birgitta) sinh ngày 14 tháng 6 năm 1303 tại Upland, Thụy Điển, nơi cha ngài cai quản. Mẹ ngài, bà Ingeborg Phinsta, là con của vị quan cai quản miền Đông Goythland. Brigitta là con út trong số 7 người con.

Truyền thuyết mặc cho cuộc sinh hạ của thánh nữ nhiều biến cố siêu nhiên. Ngay trước khi sinh ra thánh nữ, mẹ ngài đã thoát chết cách lạ lùng trong một cuộc đắm tàu. Một linh mục được thị kiến, thấy “tiếng nói của con trẻ được mọi người nghe theo”. Thực tế, Brigitta tới 3 tuổi mới nói được, nhưng lại nói rất sõi làm cho láng giềng phải kinh ngạc.

Lúc lên 7 tuổi, một buổi sáng có bà mặc áo trắng hiện đến đầu giường, tay cầm triều thiên và nói:

- Brigitta, con có muốn thiên thần này không?

Đứa trẻ đáp lời:

- Dạ con muốn lắm chứ.

Và Đức Trinh Nữ đã đội triều thiên lên đầu Brigitta.

Khi lên 10 tuổi, Brigitta đã được nghe giảng về cuộc khổ nạn của Chúa, thánh nữ rất cảm động. Đêm sau, Chúa Giêsu hiện ra, mình đầy thương tích bê bết máu. Chúa nói:

- Con xem cha bị đối xử tàn tệ thế nào.

Đau đớn thánh nữ hỏi:

- Lạy Chúa, ai làm cho Chúa bị thương tích như vậy?

Chúa nói:

- Những người khinh thường các giới luật và quên lãng tình yêu Cha.

Những hình ảnh này không bao giờ phai mờ trong tâm trí Brigitta. Năm 1314 mẹ thánh nữ từ trần. Ngài sống với người dì. Năm 1316, vì vâng lời và ngược với khuynh hướng tự nhiên, thánh nữ kết hôn với Ulf Gudmarsson, 18 tuổi, nghị viên tương lai của vương quốc. Họ sinh được tám người con, 4 trai, 4 gái. Hai người con trai chết sớm. Karl, người con trưởng nặng tinh thần thế tục, nhưng lại rất kính mến Đức Mẹ. Birger, người con gái thứ hai, lập gia đình. Nhưng sau này trở thành người cộng sự của mẹ và sẽ đem xác mẹ từ Roma về chôn cất tại Thụy Điển. Ba người con gái khác đều lập gia đình Merita và Cêcilia ở lại Thụy Điển. Còn Catarina sau khi mất chồng đã sống với mẹ.

Người con trai thứ tư, Ingebord đã trở thành tu sĩ dòng Xitô.

Vua Magour vời thánh nữ vào làm cố vấn cho hoàng hậu Blanche. Ngài trở thành người quản gia thứ hai trong triều sau hoàng hậu, nhưng đã cố gắng một cách vô hiệu trong nỗ lực biến cải đời sống của hoàng hậu lẫn của nhà vua. Sau một cơn bệnh nguy ngập và được Đức Trinh Nữ chữa lành, thánh nữ khuyên chồng rời bỏ triều đình lui về nhà riêng họ đã sống đời gia đình gần như sống trong tu viện.

Brigitta cùng chồng đi hành hương đền thờ thánh Giacôbê ở Compostella. Trên đường về, ông Ulf lâm trọng bệnh. Năm 1943, nghĩa là 28 năm sau ngày cưới, ông qua đời tại tu viện Alvasta và Brigitta sống đời sám hối gần tu viện Xitô ở Alvasta. Khi sống tại đây thánh nữ soạn một bộ luật dòng mà ngài được kêu gọi thành lập, nhưng sinh thời ngài không bao giờ thấy được dòng ấy thành hình. Chính Cararina, ái nữ ngài, sẽ hướng dẫn nhà dòng phát triển mạnh mẽ, sau khi được Đức Urbanô V châu phê năm 1370 và sau khi thánh nữ qua đời.

Thánh nữ Brigitta được ơn tiên tri và thực hiện nhiều cuộc chữa trị lạ lùng cho Giáo hội và xã hội. Chúng ta biết rằng: khi đã trở thành goá phụ, thánh nữ đã sống đời khổ hạnh, ít ăn, ít ngủ và cầu nguyện không ngừng. Ngài theo đuổi một luật sống nghiêm ngặt và thực hiện đủ công trình bác ái, đến nỗi chính ngài phải đi ăn xin. Dù vậy, ngài không rút lui hoàn toàn vào cô đơn. Ngài được linh ứng và cha tuyên úy của ngài viết lại bằng tiếng La-tinh dưới tựa đề “mạc khải”. Ngài cũng viết nhiều thư tín cho Đức Giáo Hoàng, các Đức Hồng y và các nhà cầm quyền để vạch trần những tật xấu của họ, cũng như chỉ vẽ cách thế canh tân đời sống họ. Đối với nhà vua, ngài chỉ trích các hà khắc và khuyên sống với địa vị của mình. Ngài còn nhờ một Giám mục mang thư khuyên hai vua Anh và Pháp hòa giải với nhau. Đối với Đức Giáo Hoàng Clêmentê VI đang ở Avignon, ngài xin vị cha chung trở về Roma.

Năm 1349, thánh nữ đi hành hương Roma để dự Năm Thánh. Nhân dịp này, ngài xin Toà Thánh châu phê luật dòng, nhưng từ năm 1215 công đồng Lateranô IV đã cấm lập thêm dòng mới. Năm 1370, Đức Giáo Hoàng Urbanô V châu phê luật dòng của ngài. Được ơn soi sáng, năm 1372, thánh Brigitta đi hành hương Thánh địa để cầu nguyện cho Giáo hội.

Năm 1373, thánh nữ trở về Roma và từ trần vào ngày 23 tháng 7. Mười tám năm sau, ngày 7 tháng10 năm 1391, ngài được ĐGH Boniface IX phong thánh.

MẢNH ĐẤT TỐT

“Có những hạt lại rơi trên đất tốt, nên sinh hoa kết quả: hạt được gấp trăm, hạt được sáu chục, hạt được ba chục.” (Mt 13,9)

Suy niệm: Hạt giống “sinh hoa kết quả”, có thể nói, là niềm mong ước của tất cả mọi người đi gieo. Song, để đạt được điều đó, thì có hạt giống tốt mà thôi vẫn chưa đủ, nhưng còn cần đến mộtmảnh đất tốt. Thực tế đó cũng được áp dụng đúng trong trường hợp của chính Lời Chúa là “hạt giống tốt” được Chúa Giêsu gieo vãi vào trong những mảnh đất là tâm hồn của con người. Chỉ có những mảnh đất tâm hồn tươi tốt, phì nhiêu mới làm cho hạt giống Lời Chúa được trổ sinh hoa trái dồi dào. Song, một mảnh đất tâm hồn tươi tốt là thế nào nếu không phải là một tâm hồn luôn biết mở rộng để lắng nghe, để suy niệm và đem ra thực hành.

Mời Bạn: Cuộc sống giữa trần thế, với biết bao bận tâm chi phối, dễ làm cho chúng ta lãng quên, coi nhẹ việc lắng nghe và suy niệm Lời Chúa. Điều đó khiến mảnh đất tâm hồn của chúng ta dần dà trở nên khô cằn, sỏi đá và gai góc. Vì thế, hơn bao giờ hết, bạn và tôi được mời gọi chăm lo mảnh đất tâm hồn mình cho tươi tốt bằng việc gắn bó với Lời Chúa mỗi ngày. Có như thế, hạt giống Lời Chúa mới bám rễ sâu và sinh hoa kết trái dồi dào.

Chia sẻ: Bạn đã có thói quen đọc Lời Chúa hằng ngày chưa? Bạn cảm thấy thế nào mỗi khi đọc, lắng nghe và suy niệm Lời Chúa?

Sống Lời Chúa: Dành ít phút mỗi ngày để suy niệm Lời Chúa.

Cầu nguyện: Lạy Chúa Giê-su, Chúa đã đến và gieo hạt giống Tin Mừng vào tâm hồn chúng con. Xin giúp chúng con trở nên những mảnh đất tốt, để Lời Chúa có thể sinh hoa kết quả. Amen.

Lạy Chúa Giê-su Thánh Thể,

Chúa là Đấng rất giầu lòng quảng đại bao dung. Chúa luôn thi thố tình thương Chúa cho nhân loại chúng con. Chúa luôn gieo điều tốt, điều có lợi cho chúng con. Chúa vốc từng vốc hạt ân sủng xuống cho nhân gian. Chúa mong muốn chúng con được tắm gội trong hồng ân của Chúa.

Nhưng Chúa ơi, nhiều người chúng con đã không biết đón nhận ân sủng của Chúa. Chúng con để cho gai góc là những thói hư tật xấu, những đam mê thấp hèn làm mất vẻ đẹp trong sáng của tâm hồn chúng con. Chúng con còn quấn quanh mình biết bao sợi dây xiềng xích bởi đam mê mù quáng, bởi lười biếng và ươn hèn. Xin tha thứ vì những lần chúng con chai lỳ trong tội lỗi. Xin Chúa tiếp tục tắm gội ân sủng Chúa trong tâm hồn chúng con. Xin Lời Chúa gieo trong cuộc đời chúng con được đơm bông kết trái qua đời sống trong sạch, bác ái và vị tha.

Lạy Chúa Giê-su mến yêu, Chúa luôn kiên nhẫn trong việc gieo vãi ơn thánh và Lời Chúa, xin giúp chúng con luôn kiên nhẫn trong việc trau dồi Lời Chúa và đem ra thực hành trong đời sống thường ngày của chúng con. Amen.

THỨ NĂM TUẦN 16 TN: Th. Xa-be-li-ô Ma-lúp, linh mục
Tin Mừng (Mt 13, 10-17)

Khi ấy, các môn đệ đến gần thưa Chúa Giêsu rằng: “Tại sao Thầy dùng dụ ngôn mà nói với họ?” Người đáp lại: “Về phần các con, đã cho biết những mầu nhiệm Nước Trời, còn họ thì không cho biết. Vì ai đã có, thì ban thêm cho họ được dư dật; còn kẻ không có, thì cái họ có cũng bị lấy đi. Bởi thế, Thầy dùng dụ ngôn mà nói với họ: vì họ nhìn mà không thấy, lắng tai mà không nghe và không hiểu chi hết. Thế mới ứng nghiệm lời tiên tri Isaia nói về họ rằng: “Các ngươi lắng tai nghe mà chẳng hiểu, trố mắt nhìn mà chẳng thấy gì. Vì lòng dân này đã ra chai đá, họ đã bịt tai, và nhắm mắt lại, kẻo mắt thấy được, tai nghe được, và lòng chúng hiểu được mà hối cải, và Ta lại chữa chúng cho lành”. “Phần các con, phúc cho mắt các con vì được thấy; và phúc cho tai các con vì được nghe. Quả thật, Thầy bảo các con: Nhiều vị tiên tri và nhiều đấng công chính đã ao ước trông thấy điều các con thấy, mà không được thấy; mong ước nghe điều các con nghe, mà không được nghe”.

Thánh Sarbêliô Makhluf, linh mục (1828 – 1898)

Thánh Sarbêliô Makhluf (hay Giuse Makhluf) sinh ngày 28 tháng 5 năm 1828 tại Lêbanon. Gia đình Giuse rất nghèo, thân phụ Giuse đã qua đời khi ngài còn rất nhỏ. Giuse và các anh chị em được nuôi dạy bởi thân mẫu và người cậu. Vì được hấp thụ một nền giáo dục chân thành nên Giuse và các anh chị em đã cảm hiểu và yêu mến đức tin của mình cách rất tha thiết. Nơi nhà thờ, Giuse tham gia giúp lễ và ca đoàn. Ở nhà tư, Giuse giúp chăn giữ chiên cừu và dành nhiều thời giờ để cầu nguyện cũng như suy gẫm một mình.

Giuse có hai người cậu đi tu và ngài thích viếng thăm các cậu để bắt chước lối sống của các cậu. Khi Giuse lên 23, ngài đã xin vào một tu viện và nhận tên là Sarbêliô. Khấn dòng xong, Sarbêliô theo học triết học và thần học. Sau đó, ngài được thụ phong linh mục và đã sống cuộc đời cầu nguyện, hãm mình đền tội và chăm chỉ làm việc. Đó là những công việc thánh nhân rất ưa thích và ngài cảm thấy rất hạnh phúc.

Năm 1866, Sarbêliô Makhluf lui vào trong một ẩn am để sống cuộc đời biệt lập. Ngài cảm thấy Thiên Chúa mời gọi mình sống thân mật với Người qua lối sống này. Và ngài đã sống trong căn phòng nhỏ bé đó suốt 23 năm, dành hầu hết thời giờ để cầu nguyện và dâng thánh lễ. Dù đã cố gắng sống ẩn mình, nhiều người vẫn tìm đến với thánh nhân để xin ngài cầu nguyện và khuyên bảo.

Ngày 16 tháng 12 năm 1898, đang lúc cử hành thánh lễ thì Sarbêliô Makhluf đã bị đột quỵ. Ngài được đưa về phòng và không thể dâng lễ được nữa. Sarbêliô Makhluf qua đời tám ngày sau đó, vào dịp lễ Giáng sinh. Ngài được chôn cất tại tu viện thánh Maron. Ngôi mộ của ngài đã trở thành địa điểm hành hương. Trong năm 1950, mỗi ngày có khoảng 15.000 người đã đến kính viếng mộ ngài. Ngài 9 tháng 10 năm 1977, Đức Thánh Cha Phaolô VI đã phong thánh cho ngài.

PHÚC VÌ ĐƯỢC THẤY, ĐƯỢC NGHE

“Mắt anh em thật có phúc vì được thấy, tai anh em thật có phúc, vì được nghe.” (Mt 13,16)

Suy niệm: Đức Giêsu tuyên bố các môn đệ có phúc hơn “nhiều ngôn sứ và nhiều người công chính” chỉvì họ đã “được thấy và được nghe.” Nhưng thấy và nghe ai hay cái gì? Thưa, chính Chúa, bằng xương bằng thịt! Có điều ta đừng quên, nguyên điều đó vẫn chưa đủ để gọi là “có phúc”. Thực tế là bao người xung quanh Chúa thời ấy chẳng thực sự thấy và nghe hiểu được Chúa. Giữa các môn đệ và những người kia có một điều khác biệt: “Anh em thì được ơn hiểu biết các mầu nhiệm Nước Trời, còn họ thì không.” Ta nhớ lời này của Đức Giêsu: “Con tạ ơn Cha vì đã giấu các mầu nhiệm Nước Trời đối với những kẻ thông thái khôn ngoan, nhưng lại mạc khải cho những người bé mọn!”

Mời Bạn: Ngày nay không ai thấy Đức Giêsu bằng xương bằng thịt nữa, nhưng nhiều tâm hồn bé mọn vẫn “thật có phúc” vì được Ngài chinh phục cách sâu xa. Đó là những tâm hồn thánh thiện, hoàn toàn sống theo Tin Mừng của Chúa. Một số trong đó được nhiều người biết đến (như các vị thánh nhân như Đức Gioan XXIII, Đức Gioan Phaolô II, Mẹ Têrêsa Cancutta…), còn rất nhiều người khác rất âm thầm, nhưng họ rất gần xung quanh ta, và phần “phúc” của họ lớn lao không kém.

Sống Lời Chúa: Để nhận được “ơn hiểu biết các mầu nhiệm Nước Trời” mời bạn tháo gỡ những vật cản không cho mắt được thấy và tai được nghe, tức những đam mê thấp hèn và những bận rộn lo lắng sự đời quá mức nơi mình.

Cầu nguyện: Lạy Chúa, là sản nghiệp của con…, là phần tuyệt hảo may mắn của con… Tâm hồn con mừng rỡ… Ở bên Ngài, hoan lạc chẳng hề vơi! (Tv 15).

Lạy Chúa Giê-su Thánh Thể,

Thánh Thể Chúa là nguồn sức mạnh nâng đỡ tâm hồn chúng con. Qua bí tích Thánh Thể chúng con được sống bằng sức sống của Chúa. Chúa đến viếng thăm linh hồn chúng con. Chúa ở lại để chia sẻ buồn vui trong kiếp người chúng con. Chúng con xin tạ ơn Chúa. Xin Chúa giúp chúng con biết sống xứng đáng với ơn trời cao cả mà Chúa đã dành cho chúng con.

Lạy Chúa Giê-su mến yêu, Chúa đã chúc phúc cho những ai nghe và thực hành lời Chúa. Chúa còn nhận những ai lắng nghe và thực hành lời Chúa vào gia đình của Chúa. Ước gì chúng con được vào số những người được Chúa chúc phúc. Ước gì chúng con luôn là thành viên của gia đình Chúa để được Chúa yêu thương, chăm sóc và ủi an. Xin giúp chúng con luôn mặc lấy tâm tình đơn sơ ngoan hiền để dễ dàng đón nhận lời giáo huấn của Chúa. Xin dạy bảo chúng con những lời cao quý để chúng con luôn đi trong đường ngay nẻo chính.

Lạy Chúa, xin cho chúng con được lắng nghe tiếng Chúa trong từng biến cố vui buồn của cuộc đời. Xin giúp chúng con biết phó thác đời mình trong sự quan phòng của Chúa. Amen.

THỨ SÁU TUẦN 16 TN: Th. Gia-cô-bê, tông đồ
Tin Mừng (Mt 20, 20-28)


Khi ấy, bà mẹ các con ông Giêbêđê cùng với hai con đến gặp Chúa Giêsu. Bà sấp mình xuống lạy Người, có ý xin Người điều chi đó. Người hỏi: “Bà muốn gì?” Bà ta thưa lại: “Xin Ngài hãy truyền cho hai con tôi đây được ngồi một đứa bên hữu, một đứa bên tả Ngài, trong Nước Ngài”.

Chúa Giêsu đáp lại: “Các ngươi không biết điều các ngươi xin. Các ngươi có thể uống chén mà ít nữa đây ta sắp uống chăng?” Họ nói với Người: “Thưa được”. Người bảo họ: “Vậy các ngươi sẽ uống chén của Ta, còn việc ngồi bên hữu hay bên tả, thì không thuộc quyền Ta ban, nhưng Cha Ta đã chuẩn bị cho ai thì người ấy mới được”. Nghe vậy, mười người kia tỏ ra bất bình với hai anh em.

Chúa Giêsu gọi họ lại mà bảo: “Các con biết thủ lãnh của các dân tộc thì thống trị họ và những người làm lớn thì hành quyền trên họ. Giữa các con thì không được thế. Trong các con, ai muốn làm lớn, thì hãy phục vụ các con, và ai muốn cầm đầu các con, thì hãy làm tôi tớ các con. Cũng như Con Người đến không phải để được người ta phục vụ, nhưng để phục vụ và phó mạng sống làm giá chuộc cho nhiều người”.

Thánh Giacôbê Tông đồ

Thánh Giacôbê (Tiền), con của ngư phủ Dêbêđê và bà Salômê, anh của Tông đồ Gioan. Phúc âm thường nhắc đến hai anh em này. Vì thấy hai anh em có tính nóng nảy, Đức Giêsu đã gọi họ là “Con của thiên lôi” (Mc 3,17).

Giacôbê là nhân chứng cuộc biến hình và những giây phút cầu nguyện của Chúa trong Vườn Cây Dầu. Ngài là người đầu tiên trong Nhóm 12 đã lấy máu đào làm chứng cho Chúa Giêsu: Vua Hêrôđê Antipas đã ra lệnh chặt đầu Ngài vào năm 44 (Cv 12,2 so Mt 20,22-23).

Theo truyền thuyết của Tây ban Nha, xác Ngài được chôn cất tại Santiago de Compostela.

Chúng ta hãy xin Chúa hoán cải chúng ta như hoán cải thánh Giacôbê Tông đồ. Đồng thời xin cho chúng ta cũng biết lắng nghe và để cho Chúa thực hiện kế hoạch của Ngài ngang qua cuộc đời chúng ta.

KHÔNG BIẾT XIN GÌ!

Bấy giờ, bà mẹ của các con ông Dê-bê-đê đến gặp Đức Giê-su…; bà bái lạy và kêu xin Người một điều…. Đức Giê-su bảo: “Các người không biết các người xin gì!” (Mt 20,20-22)

Suy niệm: Ba mẹ con nhà Dê-bê-đê đã gõ đúng cửa khi đến cầu xin Đức Giê-su. Nhưng nếu cầu cạnh Ngài chỉ để xin chiếc ghế “tả hữu tướng quốc” thì chẳng khác nào vào một kho tàng chứa đầy ngọc ngà châu báu mà chỉ lấy ra vài viên đá cuội. Dù Chúa trách hai ông Gia-cô-bê và Gio-an: “Các người không biết các người xin gì”, Ngài vẫn giúp họ từ bỏ động lực trần tục đó để nhắm tới mục đích đích thực của việc theo Chúa là “cùng uống chén mà Thầy sắp uống” tức là cùng tham dự vào cuộc khổ nạn với Ngài. Nói rộng ra, “trước hết phải biết tìm kiếm Nước Thiên Chúa” và tin tưởng rằng “những sự khác, Ngài sẽ thêm cho” (Mt 6,33).

Mời Bạn: Hẳn có lúc, bạn tự hỏi: tôi tin Chúa, chấp nhận hy sinh từ bỏ nhiều thứ để đi theo Chúa, nhưng tại sao đời tôi vẫn túng nghèo, vất vả, bị chèn ep, gặp những chuyện không may…? Thế thì bạn có tự hỏi mình đang tìm gì nơi Chúa không? Phải chăng bạn cũng đang “không biết mình đang xin gì”? Bạn nhớ Chúa dạy đi theo Ngài không phải để được địa vị chức quyền, giàu sang an nhàn, nhưng là để bước theo Chúa trên con đường thập giá, để hiến thân mình phục vụ tha nhân trong khiêm tốn và vui tươi.

Sống Lời Chúa: Vì chúng ta không biết cầu nguyện thế nào cho phải, nên chúng ta hãy bắt đầu các công việc bằng việc cầu xin Chúa Thánh Thần để Ngài cầu thay nguyện giúp chúng ta theo đúng ý Thiên Chúa (Rm 8,26-27).

Cầu nguyện:Sốt sắng đọc kinh Đức Chúa Thánh Thần.

Lạy Chúa Giê-su Thánh Thể,

Chúa đã gieo cuộc đời Chúa xuống trần gian. Chúa đã làm nở hoa yêu thương, hoa hy sinh, hoa dâng hiến phục vụ cho trần gian. Xin cho chúng con mỗi lần rước Chúa, cũng được tình yêu Chúa nâng đỡ để tiếp tục gieo yêu thương vào cho nhân thế.

Lạy Chúa Giê-su mến yêu, Chúa luôn mong muốn chúng con trở thành người tốt, người có ích cho tha nhân. Chúa muốn chúng con phải sống một tình yêu vô vị lợi cho tha nhân. Chúa luôn gieo những tư tưởng thanh cao, những ý hướng thánh thiện vào tâm hồn chúng con. Chúa muốn chúng con luôn tỏa lan hương thơm bác ái và vị tha đến cho mọi người.

Nhưng Chúa ơi, tâm hồn chúng con cứ rối bời và đầy mâu thuẫn. Việc lành chúng con muốn làm nhưng lại chần chờ, so đo, thiếu cố gắng để thực thi. Việc xấu chúng con không muốn xẩy ra, nhưng chúng con thiếu tự chủ, thiếu nỗ lực chống trả, khiến nhiều lần chúng con rơi vào cám dỗ tội lỗi. Xin Chúa tha thứ cho chúng con. Xin thêm ơn trợ giúp để chúng con biết vượt thắng những cám dỗ, những ước muốn tầm thường.

Lạy Chúa, xin tưới gội ơn thánh Chúa tràn đầy tâm hồn chúng con, để chúng con mãi mãi là thuở đất mầu mỡ cho lời Chúa được đơm bông kết trái. Amen.

THỨ BẢY TUẦN 16 TN: Th. Gioa-kim và An-na, song thân Đức Ma-ri-a
Tin Mừng (Mt 13, 16-17)


16 Khi ấy, Đức Giê-su nói với các môn đệ rằng : “Còn anh em, mắt anh em thật có phúc vì được thấy, tai anh em thật có phúc, vì được nghe. 17 Quả thế, Thầy bảo thật anh em, nhiều ngôn sứ và nhiều người công chính đã mong mỏi thấy điều anh em đang thấy, mà không được thấy, nghe điều anh em đang nghe, mà không được nghe.”

Thánh Gioakim và Thánh Anna

Thánh Gioakim và thánh Anna là song thân của Đức Trinh Nữ Maria. Các ngài đã dùng đời sống mình để tôn thờ Thiên Chúa và làm việc bác ái. Tuy vậy, các ngài cũng rất đau buồn vì suốt nhiều năm dài, các ngài vẫn không được phúc sinh con. Thánh Anna đã nhiều năm cầu xin Thiên Chúa ban cho có một người con; và thánh nữ đoan hứa sẽ tận hiến người con ấy cho Thiên Chúa.

Đến khi thánh Anna đã già nua tuổi tác, Thiên Chúa mới nhận lời cầu xin của ngài và Thiên Chúa đã ban cho thánh nữ một người con vượt xa hơn rất nhiều so với điều thánh nữ mong ước. Người con ấy chính là Đức Rất Thánh Trinh Nữ Maria. Người con thánh thiện hơn hết tất cả các người nữ này sẽ trở thành Mẹ của Thiên Chúa. Thánh Anna đã yêu thương chăm sóc Đức Maria độ vài năm, sau đó ngài dâng Đức Maria vào đền thánh Giêrusalem để phục vụ Thiên Chúa, như trước đây ngài đã đoan hứa với Thiên Chúa.

Đức Maria đến sống tại đền thánh Giêrusalem; thánh Gioakim và thánh Anna thì tiếp tục cuộc sống cầu nguyện cho tới khi Chúa đem các ngài về trời. Các Kitô hữu vẫn luôn tôn kính thánh Anna cách đặc biệt. Nhiều nguyện đường xinh đẹp đã được xây cất để tôn kính thánh nữ. Có lẽ nguyện đường nổi tiếng nhất là đền thánh Anna Bốp ở Canađa. Tại đây luôn luôn có những nhóm đông người đến cầu xin thánh nữ Anna giúp đỡ trong những cơn đau khổ.

Thánh Gioakim và thánh Anna là song thân Đức Mẹ và là ông bà ngoại của Đức Chúa Giêsu. Chúng ta hãy nài xin các ngài giúp chúng ta ngày càng sống thân mật hơn với Chúa Giêsu và Mẹ Thánh Người.

(Mt 13,24-30)

Trong suốt những tháng qua, tin tức nóng nhất trên các phương tiện truyền thông là sự kiện Trung Quốc hạ đặt bất hợp pháp giàn khoan HD 981 vào thềm lục địa, thuộc đặc quyền kinh tế của Việt Nam. Trước sự kiện này mọi người dân Việt Nam đều hết sức phẫn nộ, bất bình. Mỗi người, mỗi tổ chức, mỗi nhóm, thuộc đủ mọi lĩnh vực ngành nghề đều thể hiện tình yêu quê hương biển đảo của mình dưới nhiều hình thức khác nhau theo khả năng.

Trong một bài viết được đăng trên trang Vef.vn, tác giả Huấn Tú viết: “Gần đây, thông tin mạng có nói đến tình yêu quê hương đất nước của đại gia Phạm Ngọc Lâm đã đầu tư 100 tàu đánh cá với công suất 500-1.500 mã lực và 2 trực thăng để ra biển cùng ngư dân trong bối cảnh Biển Đông đang dậy sóng. Kế hoạch của Phạm Ngọc Lâm đã thu hút sự quan tâm không chỉ vì góp phần khai thác và bảo vệ biển đảo mà còn là hướng mới cho doanh nhân.

Được biết trong quá khứ, ông Lâm đã từng là tội nhân và đã bị kết án tù chung thân. Tuy nhiên với hành động hào hiệp của ông ở vào thời điểm nóng hiện tại, thì ông được kể là người tốt, vì có lòng yêu quê hương đất nước thiết thực”.

Câu chuyện của ông Lâm cho thấy: Qúa khứ có thể tôi là người tội lỗi, nhưng tương lai có thể tôi là người tốt lành. Mỗi ngày có 24 giờ, trong đó có biết bao thay đổi. Thấu hiểu điều đó nên Thiên Chúa (ông chủ ruộng) đã kêu gọi gia nhân hãy kiên nhẫn chờ đợi cho cỏ lùng và lúa tốt cùng sống bên cạnh nhau đến ngày thu hoạch.

Các nhà tu đức đã có lý khi nói: “Thánh nhân là tội nhân biết ăn năn sám hối“. Mang thân phận con người, không ai là vô tội nhưng điều quan trọng là biết sám hối ăn năn để trở nên thánh thiện hơn.

Tạ ơn Chúa rất nhân từ đã “không muốn kẻ gian ác phải chết nhưng muốn nó ăn năn sám hối và được sống“. Xin cho chúng ta biết khiêm tốn nhận ra sự yếu đuối của phận người như thánh Phaolô đã cảm nhận: “sự thiện tôi muốn thì tôi không làm, nhưng sự ác tôi không muốn, tôi lại cứ làm” (Rm 8,19) để tích cực vun trồng, bảo vệ và chăm sóc cho những hạt lúa tốt nơi tâm hồn chúng ta được nẩy mầm, lớn nhanh, lớn mạnh, hầu đủ sức loại trừ dần những mầm móng cỏ lùng độc hại xấu xa ra khỏi mảnh đất nơi tâm hồn chúng ta.

Hôm nay chúng ta mừng kính thánh Gioakim và Anna song thân Đức Maria. Dù rằng chúng ta không biết gì về đời sống của hai ngài, nhưng với kinh nghiệm của cha ông ta: “Con nhà tông không giống lông cũng giống cánh“, hay “cha nào con nấy“, nhất là dưới ánh sáng lời Chúa dạy: “Xem quả thì biết cây“, phần nào chúng ta nhận ra đôi chút về đời sống của hai ngài qua Đức Maria, người con của hai ngài.

Đức Maria sẽ không được mọi đời khen ngợi là người phụ nữ diễm phúc nếu không được cảm nếm niềm hạnh phúc nơi thánh Gioankim và Anna.

Đức Maria sẽ không được chọn làm Mẹ Đấng Cứu Thế nếu như tâm hồn Mẹ không được thánh Gioakim và Anna chuần bị xứng hợp.

Đức Maria sẽ không có tinh thần âm thầm hy sinh phục vụ nếu như không nhận thấy đời sống hy sinh phục vụ âm thầm của cha mẹ người.

Đức Maria sẽ không thể có được tinh thần khiêm hạ, nghèo khó nếu như không được hấp thụ bởi gương sáng từ cha mẹ.

Đức Maria sẽ không có được tinh thần vâng phục thánh ý Thiên Chúa nếu như không được cha mẹ truyền thụ lại một nền tảng đức tin vững chắc.

Xin Chúa qua lời chuyển cầu của Đức Maria giúp cho gia đình chúng con biết noi gương gia đình thánh Gioakim và Anna, luôn vâng nghe lời Chúa và Hội thánh; biết loại trừ tính hư nết xấu là cỏ lùng độc hại ra khỏi đời sống, để những giá trị Tin mừng là lúa tốt được triển nở mạnh mẽ nơi gia đình chúng con.

Xin cho các bậc làm cha mẹ trở thành gương sáng đời sống đức tin và yêu thương cho con cái như thánh Gioakim và Anna, nhằm góp phần làm cho mảnh đất tâm hồn nơi con cái trổ sinh nhiều hoa trái tốt lành.


Lạy Chúa Giê-su Thánh Thể,

Chúng con thật hạnh phúc được kết hợp nên một trong Chúa. Dù rằng chúng con còn thiếu sót, tội lỗi. Dù rằng chúng con còn ngổn ngang trăm chiều những đam mê trần thế. Chúa vẫn yêu thương chúng con. Chúa vẫn kiên nhẫn. Chúa vẫn chờ đợi chúng con trở về trong tình thương quan phòng của Chúa. Xin Chúa hãy uốn lòng chúng con nên giống trái tim nhân từ đầy yêu thương của Chúa.

Lạy Chúa, chúng con luôn mong muốn xã hội được hoàn hảo, được tốt lành. Chúng con muốn không còn người xấu bên cạnh chúng con. Chúng con muốn không còn ai khổ đau bởi bất công, hận thù. Chúng con muốn mọi người chỉ biết gieo yêu thương, niềm vui và hạnh phúc cho nhau. Nhưng Chúa ơi, chúng con thật xấu hổ khi chính chúng con lại gieo tai họa cho tha nhân. Khi chính chúng con gieo hận thù, bất công cho anh em. Chúng con trở thành nỗi bất hạnh cho gia đình vì đời sống lười biếng, thiếu đạo đức, thiếu trách nhiệm của chúng con. Xin tha thứ cho chúng con. Xin Chúa giúp chúng con sửa đổi và hoàn thiện mình mỗi ngày nên tốt hơn.

Lạy Chúa Giê-su mến yêu, xin ban cho chúng con một tâm hồn ngay thẳng, một trái tim yêu thương, một tấm lòng quảng đại để chúng con biết gieo tình người đầy yêu thương, bác ái và cảm thông đến cho mọi người. Amen.

Giuse Nguyễn

About Giuse Nguyễn

Author Description here.. Nulla sagittis convallis. Curabitur consequat. Quisque metus enim, venenatis fermentum, mollis in, porta et, nibh. Duis vulputate elit in elit. Mauris dictum libero id justo.

Subscribe to this Blog via Email :